Tác giả: Edgar Allan Poe

Năm xuất bản: 1850

Nguồn

Toà lâu đài mà gã đầy tớ của tôi đã liều lĩnh đột nhập vào, thay vì để tôi màn trời chiếu đất trong tình trạng bị thương trầm trọng, là một trong các tổ hợp lẫn lộn giữa lạnh lẽo và lộng lẫy vốn đã đứng sừng sững giữa dãy Appennines từ lâu, cả trên thực tế lẫn trong tưởng tượng của bà Radcliffe. Nhìn bề ngoài thì nó mới bị bỏ hoang tạm thời gần đây thôi. Chúng tôi an toạ tại một trong những căn phòng nhỏ và được trang bị nội thất sơ sài nhất, toạ lạc tại một tháp canh ở góc hẻo lánh của toà nhà. Phần trang trí tỉ mỉ nhưng xuống cấp và cổ kính. Những bức tường được phủ tranh thảm và trang hoàng với hàng loạt các huy hiệu thắng lợi đủ các hình dạng, cùng với một số lượng lớn bất thường các bức hoạ hiện đại sống động đóng khung vàng chạm hoạ tiết đường lượn kiểu Ả rập. Những bức hoạ này không chỉ được treo ở các bề mặt chính của tường mà còn cả trong rất nhiều những hốc hõm có vẻ là cần thiết với kiến trúc kỳ quái của toà lâu đài – có lẽ cơn mê sảng chớm nở của tôi đã khơi dậy niềm hứng thú sâu sắc với những bức hoạ này; thế là tôi bảo Pedro đóng hết tất cả các cửa chớp nặng nề của căn phòng – vì trời cũng đã về khuya – để thắp sáng chân nến cao ngay cạnh đầu giường tôi – và mở rộng hết cỡ bức rèm đen tua rua che phủ toàn bộ cái giường. Tôi yêu cầu tất cả những điều này để nếu không tài nào chợp được mắt, thì ít nhất thay vào đó tôi có thể chiêm nghiệm những bức hoạ này và nghiền ngẫm một cuốn sách nhỏ đặt trên gối đầu giường với nội dung phê bình và miêu tả các tranh.

Lâu – rất lâu tôi đọc – và ngắm tận tâm, tận tình. Thời gian cứ thế nhanh chóng mải miết trôi đi và trời trở khuya khoắt. Do không hài lòng với vị trí của cây đèn nến nên tôi khó nhọc với tay ra thay vì làm phiền gã đầy tớ đang say ngủ và đặt lại để những tia sáng chiếu rõ cuốn sách hơn.

Nhưng hành động này lại tạo ra một hiệu ứng không hề lường trước. Tia sáng từ một số lượng (rất nhiều) các ngọn nến giờ rơi vào một góc phòng trước đó bị một cột giường khuất bóng. Nhờ đó tôi nhìn thấy trong ánh sáng rực rỡ một bức tranh nãy giờ không để mắt tới. Đó là bức chân dung một thiếu nữ đang đến tuổi trưởng thành. Tôi vội vã liếc nhìn bức họa và rồi nhắm mắt lại. Ngay cả trực quan của tôi cũng không rõ tại sao mình làm vậy. Nhưng tôi tiếp tục nhắm chặt mí mắt và đào bới tâm trí tìm kiếm lý do mình nhắm chúng. Đó là một khoảnh khắc bốc đồng để trì hoãn thời gian suy nghĩ – để đảm bảo thị giác đã không dối lừa tôi – để xoa dịu sự rối loạn và nhường chỗ cho một cái nhìn tỉnh táo và chắc chắn hơn. Sau một vài khoảnh khắc tôi lại nhìn chằm chằm vào bức tranh.

Tôi không thể và cũng không muốn nghi ngờ rằng mình đang nhìn thấy đúng sự thật; bởi ánh sáng lóe lên đầu tiên từ những ngọn nến chiếu lên tấm phông đó dường như đã xua tan cơn mê man mơ màng đang dần bao trùm các giác quan của tôi, và ngay lập tức đánh thức tôi trở về với thực tại.

Bức họa, như tôi đã nói, là của một thiếu nữ. Chỉ có phần đầu và vai, vẽ theo phong cách mà về mặt kỹ thuật được gọi là “vignette”1; rất giống với phong cách của những bức chân dung bán thân mà Sully2 ưa vẽ. Hai cánh tay, bầu ngực, kể cả đuôi mái tóc bóng mượt cũng tan chảy vào bóng tối mờ ảo mà sâu lắng làm nền cho cả thảy. Khung tranh hình bầu dục, mạ vàng tỉ mỉ và chạm lộng theo kiểu người Moor. Và về mặt nghệ thuật, không gì đáng ngưỡng mộ hơn là chính bức hoạ đó. Nhưng lý do khiến tôi đột ngột xúc động mãnh liệt không phải là kỹ thuật vẽ hay vẻ đẹp vĩnh cửu của khuôn mặt ấy. Khó tin hơn cả, có lẽ nào là do tâm trí tôi, khi bừng tỉnh từ giấc ngủ gà gật, đã nhìn nhầm cái đầu thành của người sống. Ngay tức khắc tôi nhận ra những điều kỳ lạ về thiết kế, về hiệu ứng tối góc và khung tranh, và có lẽ vì vậy nên tôi đã dẹp bỏ ngay nhầm lẫn đó – cũng như ngăn bản thân thưởng tranh trong giây lát. Tôi đắm chìm trong suy tư về những điều nói trên, và cứ thế ngồi nghiêng ngả có lẽ trong khoảng một tiếng đồng hồ, không rời mắt khỏi bức chân dung. Sau một hồi, khi đã thoả mãn với bí mật thực sự về hiệu ứng của nó, tôi nằm lại xuống giường. Tôi nhận ra nét mê hoặc của bức hoạ đến từ biểu cảm khuôn mặt tuyệt đối chân thực, ban đầu gây giật mình, cuối cùng gây bối rối, khuất phục, và thất kinh. Với nỗi kinh sợ sâu sắc và thành kính, tôi đặt chân nến về lại vị trí cũ. Sau khi nguyên nhân nỗi kinh hoảng sâu thẳm của tôi đã khuất tầm mắt, tôi hào hứng tìm lại cuốn sách thảo luận về các bức tranh và lịch sử của chúng. Lật đến số của bức chân dung hình bầu dục, tôi đọc những từ ngữ mơ hồ và kỳ lạ sau đây:

“Nàng là một thiếu nữ với vẻ đẹp hiếm thấy, vừa dễ thương lại tràn ngập niềm hân hoan. Quỷ tha ma bắt thay thời khắc nàng trông thấy, yêu thương, và kết hôn với chàng hoạ sĩ. Chàng, nhiệt huyết, giỏi giang, khắc khổ, vốn đã có nàng dâu là Hội hoạ của chàng; nàng thiếu nữ với vẻ đẹp hiếm thấy, vừa dễ thương vừa tràn ngập niềm hân hoan, luôn rạng rỡ tươi cười, nô đùa như một con nai nhỏ; yêu thương và trân trọng mọi thứ; chỉ căm ghét ả tình địch Hội hoạ; chỉ chán chường bảng màu và những cây cọ vẽ và các hoạ cụ khác chiếm hết sự chú ý của người yêu nàng. Vậy nên thật tệ hại làm sao khi nàng phải nghe chàng hoạ sĩ nói lên khao khát được vẽ chân dung cả của nàng dâu trẻ. Nhưng nàng khiêm tốn và vâng lời, và ngồi ngoan ngoãn suốt nhiều tuần trong căn phòng tối nơi tháp canh cao, nơi chỉ có một nguồn sáng duy nhất chiếu từ trên đầu xuống phông vẽ nhợt nhạt. Nhưng chàng hoạ sĩ mải mê với hào quang tác phẩm của mình, liên tục giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Và chàng là người nhiệt huyết và hoang dại và ủ rũ, người đắm chìm trong những mộng tưởng; bởi thế chàng không nhận ra ánh sáng nhợt nhạt trong tháp canh đơn độc ấy làm tiều tuỵ sức khoẻ và tinh thần nàng dâu mà trừ chàng ra ai cũng thấy héo hon. Ấy vậy mà nàng vẫn tiếp tục mỉm cười không một lời phàn nàn, bởi nàng chứng kiến chàng hoạ sĩ (đức cao trọng vọng) tìm thấy khoái lạc sôi sục và nóng bỏng trong công việc, khổ công ngày đêm để vẽ nàng – người yêu chàng say đắm nhưng ngày qua ngày càng suy nhược và héo mòn. Và vì vậy những người trông thấy bức chân dung nói về sự truyền thần này bằng một giọng tôn kính, như thể nói về một sự kỳ diệu đáng gờm, và bằng chứng về sức mạnh không chỉ của người hoạ sĩ mà còn cả tình yêu sâu đậm dành cho người con gái được chàng thể hiện hết sức tài tình. Nhưng sau một thời gian, khi công việc đã gần đến hồi kết, không ai được phép vào toà tháp canh nữa; bởi chàng hoạ sĩ đã phát cuồng với tình yêu tác phẩm của mình và hiếm khi rời mắt khỏi phông vẽ, kể cả để ngắm gương mặt vợ mình. Và chàng không nhận ra những sắc màu phết trên phông vẽ đang dần hút cạn vơi từ đôi má người thiếu nữ bên cạnh chàng. Và nhiều tuần đã trôi qua, khi gần như không còn gì để vẽ nữa, ngoại trừ một nét cọ nơi bờ môi và một chút màu trên mắt, linh hồn quý cô lại bừng lên như ngọn lửa trong bầu đèn. Và khi nét cọ được phết và vệt màu được tô lên; và, trong một khắc, chàng hoạ sĩ đứng ngây ngẩn trước tác phẩm chàng đã khổ công vẽ; nhưng khắc sau, vẫn đang nhìn ngắm, chàng trở nên lẩy bẩy và tái nhợt, và đau khổ, và gào khóc thảm thiết, “Đây chính là Sự sống!”, đột ngột quay ra nhìn người yêu dấu: – Nàng đã chết!

  1. Một phong cách viền tranh ảnh, người ta vẽ trang trí hoạ tiết hoặc làm mờ phần rìa thay cho khung chữ nhật kẻ thẳng. Gốc từ vignette trong tiếng Pháp có nghĩa là cây dây leo nhỏ (theo Wikipedia). – ND 

  2. Thomas Sully (1783 – 1872), hoạ sỹ người Mỹ gốc Anh, nổi tiếng với các bức vẽ chân dung (theo Wikipedia). – ND 


<
Previous Post
[Bình luận phim] The Joy of Mozart (2015)
>
Next Post
Vampires: more than a mythical creature